Đã hoang thành nhưng hệ thống xử lý nước thải vẫn " đắp chiếu"



Nhà máy xử lý nước thải thị trấn Me (huyện Gia Viễn, Ninh Bình) hoàn thành đã 4 năm nay, nhưng gần như không hoạt động, rất lãng phí.

Nhà máy nước thải thị trấn Me đang bị “đắp chiếu”

Nhà máy nước thải thị trấn Me đang bị “đắp chiếu

Nhà máy này thuộc dự án xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ thấm lọc cho các khu dân cư và đô thị, ở thị trấn Me, được xây dựng với mục đích xử lý nước thải và khôi phục cảnh quan môi trường. Dự án được triển khai từ năm 2008, do Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) làm chủ đầu tư, hoàn thành và bàn giao cho UBND huyện Gia Viễn quản lý từ năm 2010.

Người dân thị trấn Me cho rằng, nhà máy xử lý nước thải hoạt động sẽ góp phần cải tạo môi trường vì trong nhiều năm qua, nước thải sinh hoạt trên địa bàn đều xả trực tiếp ra kênh mương, ruộng đồng, ao hồ. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, nhà máy xử lý nước thải này hoạt động rất cầm chừng, gần như bị “đắp chiếu”.

Theo quan sát của chúng tôi, khuôn viên của nhà máy xử lý nước thải đang bị bao vây bởi cỏ dại, lau sậy, trong khi tất cả các cánh cửa, hệ thống điện, nước bên trong công trình đã bị tháo dỡ nham nhở.

Ông Đinh Hữu Đương (ngụ tại phố Tiến Yết, thị trấn Me) cho biết: “Khi khởi công xây dựng, chúng tôi đều biết nhưng đến nay công trình đã bàn giao cho thị trấn chưa thì chúng tôi không nắm được, vì mấy năm không thấy nhà máy hoạt động gì cả. Nếu xong rồi mà không đưa vào sử dụng thì đó là một sự lãng phí lớn”, ông Đương nói.

Trưởng phòng TN-MT huyện Gia Viễn  ông Hoàng Văn Lượng  thừa nhận, các hạng mục chính của công trình nhà máy xử lý nước thải thị trấn Me đã hoàn thành nhưng đến nay vẫn chưa có hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư đến nhà máy. Hạng mục này không nằm trong dự án mà địa phương phải đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, do gặp khó khăn về tài chính nên UBND huyện chưa bố trí được vốn để hoàn thiện. Hiện tại, mới chỉ có phố Tiến Yết đã xây dựng được hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt về nhà máy xử lý nên nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng, gây lãng phí.

Theo ông Đoàn Thanh Hà, Chủ tịch UBND thị trấn Me, người dân phản ánh Nhà máy xử lý nước thải thị trấn Me bị “đắp chiếu” là đúng. UBND thị trấn đã nhiều lần kiến nghị lên cấp trên nhưng chưa có kết quả. Phó chủ tịch UBND huyện Gia Viễn ông Bùi Quang Hưng tuy khẳng định việc hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải để nhà máy hoạt động là rất cần thiết, nhưng theo ông Hưng, “việc này cần một nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách của huyện lại đang khó khăn nên thời điểm này chúng tôi chưa thể làm gì hơn”.



Nhà máy An Hòa vượt mức nồng độ nước thải


Trung tâm quan trắc và chi cục bảo vệ tài nguyên môi trường vừa thực hiện đợt kiểm tra hoạt động của hệ thống xử lý nước thải, chất thải, bảo vệ môi trường tại công ty CP giấy An Hòa theo lời ông Phạm Văn Lương , Phó GĐ sở Tài nguyên và môi trường cho biết. Đợt kiểm tra này đã phát hiện nước thải xả ra môi trường của đơn vị này vượt quá mức nồng độ chất thải cho phép.



Công ty CP giấy An Hoà.



Theo kết quả kiểm tra, từ ngày 1 - 26/3, Công ty giấy An Hòa dừng sản xuất để bảo dưỡng máy móc. Nhưng tại khu vực cửa xả sông Lô vẫn có nước thải từ hồ sinh học của nhà máy chảy ra. Để xác định nồng độ chất ô nhiễm trong hệ thống xử lý nước thải, cơ quan chức năng đã cùng với công ty lấy 2 mẫu nước thải, gửi Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng I (thuộc Tổng công ty Đo lường chất lượng) thử nghiệm. Kết quả cho thấy 2 mẫu thử đều vượt quá giới hạn quy định. Trong đó, độ màu vượt từ 2,13 đến 2,2 lần, BOD5 (lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các chất hữu cơ và sinh hóa do vi khuẩn gây ra, với thời gian xử lý nước thải là 5 ngày ở điều kiện nhiệt độ 20°C) vượt từ 1,06 - 1,12 lần.

Do vậy, Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND tỉnh yêu cầu Công ty giấy An Hòa khẩn trương xây dựng hệ thống xử lý nước thải, đảm bảo tiêu chuẩn cho phép, báo cáo UBND tỉnh Tuyên Quang trước ngày 31/5/2015. Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang tiếp tục phối hợp với Công an tỉnh và các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời khi có hành vi vi phạm.

Nhà máy giấy An Hòa hoạt động từ năm 2011, nhưng đã nhiều lần bị xử phạt vì gây ô nhiễm môi trường. Năm 2013, UBND tỉnh Tuyên Quang xử phạt hành chính nhà máy 230 triệu đồng, Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường xử phạt 225 triệu đồng. Tháng 8/2014, UBND tỉnh Tuyên Quang tiếp tục xử phạt đơn vị này 150 triệu đồng vì không thực hiện đúng nội dung về hệ thông xử lý nước thải.

Sai phạm của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Minh Long và những kết luật ban đầu

Cơ quan thanh tra tỉnh Quảng Ngãi đã có kết luận bước đầu những sai phạm chi tiền sai nguyên tắc của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Minh Long (Quảng Ngãi) khi mua, cấp cây giống cho người dân bằng nguồn vốn chương trình 30a vào ngày 14 - 4.
Ông Lê Chí Khanh không được bổ nhiệm lại chức danh giám đốc do sai phạm nêu trên nên giám đốc BQL rừng phòng hộ huyện Minh Long.
Ông Nguyễn Văn Thuần, Chủ tịch UBND huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Từ năm 2012-2014, BQL rừng phòng hộ Minh Long được giao nhiệm vụ mua và cấp giống cây trồng, gồm: mây nước, sa nhân, bời lời… cho người dân thiểu số trên địa bàn huyện, với tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng.
Ảnh minh họa
Vì thời điểm cấp cây giống cho dân trồng rơi vào mùa nắng nên BQL rừng chỉ cấp chủ yếu là cây mây nước, với giá trị chưa đến 1 tỷ đồng. Số cây giống còn lại BQL vẫn để tại vườn ươm của Công ty tư nhân Tài Nguyên mà chưa nhận cấp cho dân. Cây cấp chưa xong (chưa có sản phẩm), nhưng ông Lê Chí Khanh, giám đốc BQL rừng phòng hộ huyện Minh Long vẫn chỉ đạo hoàn tất thủ tục và đã chuyển đủ số tiền trên cho Công ty tư nhân Tài Nguyên dẫn đến chi tiền sai nguyên tắc tài chính.
Ông Châu Thiên Long Phó giám đốc Công ty tư nhân Tài Nguyên, đơn vị cung ứng cây giống cho biết: “Số lượng, chủng loại cây giống đã ký hợp đồng với huyện Minh Long được cung ứng đủ, thì bên mua phải thanh toán tiền. Còn việc cấp hay không là do bên mua chứ chúng tôi làm sao can thiệp được. Và bên mua cũng chưa nhận hết cây giống nên chúng tôi phải tốn nhiều công sức để bảo quản và chăm sóc.Hiện BQL rừng phòng hộ huyện Minh Long đã chuyển tiền đủ cho Công ty nên bất cứ khi nào có yêu cầu, chúng tôi sẽ cho phương tiện chở số cây trên để giao cho dân trồng rừng”.
Qua báo cáo của các cơ quan chức năng của huyện Minh Long thì số cây giống đã mua nhưng chưa cấp phát cho dân hiện vẫn còn nằm tại vườn ươm của doanh nghiệp Tài Nguyên (ở xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi).


Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè cá tiếp tục chết



Cá chết hàng loạt, nổi lềnh bềnh trên mặt nước tiếp tục tái diễn trong nhiều ngày qua trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (TP.HCM).

Cá chết hàng loạt trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè - ảnh 1


Cá chết hàng loạt trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè - ảnh 3

Cá chết vào ngày 15.4

Khu vực cá chết hàng loạt là đoạn từ cầu Điện Biên Phủ (Q.Bình Thạnh) đến cầu Trần Khánh Dư (Q.1). Điều đáng chú ý là cá chết nổi trên mặt nước hầu hết là cá lớn đủ các loại.

Người dân sống ở khu vực này cho biết, hiện tượng cá chết lác đác từ nhiều ngày qua và mỗi ngày một nhiều. Từ chiều 14.4 đến sáng nay 15.4 thì xuất hiện tình trạng cá chết hàng loạt.

Anh Lê Huy Dũng (ngụ Q.Bình Thạnh), cho biết: “Hiện tượng cá chết nổi trên mặt kênh xảy ra cũng nhiều ngày rồi. Cá chết toàn là cá lớn”.

Đặc biệt, nhiều người cũng cho biết dù cá chết hàng loạt, trôi rải rác khắp mặt kênh nhưng những ngày qua, vẫn có rất nhiều người vô tư đứng câu cá hai bên bờ..

Nguồn nước bị ô nhiễm?

Chi cục phó Chi cục quản lý chất lượng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Sở NN - PTNT TP.HCM) ông Trần Văn Sơn, cho biết nguyên nhân cá chết là do ô nhiễm cục bộ.

Đầu nguồn kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (các quận Tân Bình, Q.3, Phú Nhuận) không liên thông với sông hay kênh rạch tự nhiên nào mà toàn là cống thoát nước thải. Những cơn mưa đầu mùa trút nước xuống lòng kênh, mang theo các chất độc hại, ô nhiễm tích tụ trong suốt mùa khô ở các ngóc ngách của cống thoát nước thải.

Trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có hệ thống bơm, xử lý nước thải để đảm bảo chất lượng nguồn nước. Tuy nhiên, theo ông Sơn, do lượng nước thải nhiều quá nên có thể hệ thống xử lý không xuể khiến nguồn nước bị ô nhiễm.

Những năm trước, tình trạng cá chết hàng loạt cũng xảy ra trên dòng kênh này, cũng với lý do ô nhiễm nguồn nước cục bộ đầu mùa mưa.

Ông Sơn cho rằng Sở GTVT cần kiểm tra lại hệ thống xử lý nước thải kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè để tăng cường xử lý đảm bảo chất lượng nguồn nước trên kênh. Nếu việc xử lý không đảm bảo thì chu kỳ cá chết sẽ còn lặp lại.



Thử thách về bài toán xử lý nước thải y tế

Nguồn nước thải y tế vượt mức qui định tiêu chuẩn cho phép gây ô nhiễm môi trường xung quanh đang là vấn đề không còn xa lạ đối với các bệnh viên ở thành phố Hồ Chí Minh. Điều này bắt buộc bệnh viện phải có trách nhiệm bảo đảm nguồn nước đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường tuy nhiên công tác này gặp không ít khó khăn vì phải thực hiện triệt để, lâu dài cho 1 hệ thống xử lý nước thải y tế chất lượng.


Nhiều bệnh viện gây ô nhiễm môi trường

Theo thông tin của Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh), quá trình kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong năm 2013 và 2014 đã phát hiện nhiều BV có nguồn nước thải vượt quy chuẩn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đối tượng vi phạm tương đối đa dạng gồm: BV công lập, tư nhân, BV nằm ở khu vực ngoại thành và cả ở trung tâm; với nhiều mức độ vi phạm khác nhau so với Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 28:2010/BTNMT). Trong đó, nặng nhất là BV Tai Mũi Họng (quận 3) gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Không vận hành hệ thống xử lý nước thải y tế (HTXLNTYT), nước thải của BV này có chỉ số COD vượt 47,8 lần; BOD vượt 53,8 lần...

Là BV tư nhân, Công ty TNHH BV Đức Khang (quận 5) có mức độ vi phạm gây ô nhiễm môi trường, nước thải sau hệ thống xử lý nước thải y tế: COD vượt 3,5 lần, BOD vượt 3,75 lần, NH 4 + vượt 8,05 lần. Nằm ở khu vực ngoại thành, BV Đa khoa khu vực Thủ Đức có mức độ vi phạm gây ô nhiễm môi trường; nước thải sau HTXL: Amoni = 22,96 mg/L, vượt 2,3 lần. BV Truyền máu Huyết học (quận 5) nguồn nước thải sau HTXL: NH 4 + vượt 2,1 lần cho phép, gây ô nhiễm môi trường. Công ty CP thương mại dịch vụ BV Cao Thắng (BV Mắt Cao Thắng, quận 5) nước thải sau hệ thống xử lý nước thải y tế: NH 4 + vượt 1,05 lần. Ngoài ra, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh còn có một số BV công lập trực thuộc các bộ, ngành trung ương có tỷ lệ quản lý và vận hành xử lý nước thải y tế chưa đạt quy chuẩn môi trường.

Điều đáng nói, trong số các BV vi phạm có BV đã được cơ quan chức năng cấp quyết định phê duyệt đề án Bảo vệ môi trường như BV Đức Khang. Hay như BV Truyền máu Huyết học đã có bản cam kết bảo vệ môi trường với UBND quận 5 từ năm 2008. Và hầu hết các BV này đều đã có hệ thống xử lý nước thải y tế.Vậy nguyên nhân từ đâu khiến cho các BV có nguồn nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép?

Khó khăn trong xử lý

Khắc phục tình trạng ô nhiễm, xử lý nước thải y tế, trước tiên đó là trách nhiệm, ý thức của chính đội ngũ lãnh đạo điều hành hoạt động của BV.BV Tai Mũi Họng mặc dù có hệ thống xử lý nước thải y tế nhưng không vận hành, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là điều rất đáng lên án. Đã có những BV để có được HTXLNT, đã phải đôn đáo tìm nguồn kinh phí đầu tư xây lắp, chi phí vận hành thường xuyên. Để xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế, BV Chỉnh hình và Phục hồi chức năng TP Hồ Chí Minh (CHVPHCN TP Hồ Chí Minh) đã nỗ lực "thắt hầu bao" và còn có cả sự hỗ trợ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đơn vị chủ quản. BV CHVPHCN TP Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 2011 trên cơ sở tổ chức lại trung tâm CHVPHCN trẻ tàn tật vận động. Cơ sở hạ tầng của trung tâm này chủ yếu đã có từ trước năm 1975. Sau khi chuyển đổi lên BV, cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện BV CHVPHCN TP Hồ Chí Minh không có HTXLNT và bị phạt hơn 100 triệu đồng. Bác sĩ Đỗ Trọng Ánh, Giám đốc BV trăn trở, với khoản tiền phạt đó, BV không biết lấy từ nguồn nào. Năm 2012, BV đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đồng ý cho xây lắp HTXLNT theo công nghệ AAO, công suất 50 m 3 /ngày đêm, với kinh phí hơn 6 tỷ đồng, thanh toán theo hình thức trả dần. Bác sĩ Ánh cho biết thêm, hằng năm Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ có hơn một tỷ đồng chi cho công tác bảo vệ môi trường, do vậy, lúc bấy giờ, việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải y tế với khoản tiền lớn như vậy là một quyết định táo bạo.

Những năm gần đây, tại TP Hồ Chí Minh đã có nhiều BV ứng dụng, lắp đặt hệ thống xử lý nước thải y tế theo công nghệ AAO. Tiến sĩ Lê Quốc Tuấn, Trưởng Khoa Môi trường và Tài nguyên, Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh cho biết: Với nước thải y tế, việc sử dụng công nghệ AAO của Nhật Bản được coi là giải pháp tối ưu, nó không chỉ xử lý các chất thải trong nước thải mà còn xử lý được cả mầm bệnh lây nhiễm. Công nghệ này thuận tiện trong di dời, khi cần tăng công suất chỉ bổ sung các hợp phần cần thiết của quy trình. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Lê Quốc Tuấn, hiện nay công nghệ này khá đắt tiền, cho nên rất cần sự đồng thuận chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản. Sau đó chúng ta có thể chế tạo, xây dựng và vận hành phù hợp với điều kiện nguyên vật liệu, kinh phí của Việt Nam.

Có công nghệ tối ưu nhưng không phải BV nào cũng tìm được nguồn kinh phí xây lắp; hay có được sự đồng thuận từ cơ quan chủ quản như BV CHVPHCN TP Hồ Chí Minh. Sau khi biết nguồn nước thải của đơn vị vượt tiêu chuẩn cho phép, bác sĩ Trịnh Đình Thắng, Giám đốc BV Đa khoa khu vực Thủ Đức đã cho kiểm tra lại HTXLNT.Nhưng khâu kiểm tra, xử lý cũng gặp nhiều khó khăn. Bởi theo bác sĩ Thắng, hệ thống xử lý nước thải y tế của BV đã cũ kỹ, BV lại đang rơi vào tình trạng quá tải bệnh nhân. Việc khắc phục triệt để ô nhiễm do nguồn nước thải đang chờ vào dự án xây dựng mới BV sớm được triển khai. Theo thiết kế của dự án BV mới thì hệ thống xử lý môi trường nói chung, nguồn nước y tế nói riêng rất được coi trọng và xây lắp theo công nghệ hiện đại.

Ông Cao Trung Sơn, Chi cục Phó Bảo vệ Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh) cho rằng, công tác xử lý, khắc phục nước thải y tế hiện nay đang gặp nhiều khó khăn như: HTXLNT cũ kỹ, chưa có đội ngũ chuyên môn hóa trong vận hành, bảo dưỡng HTXLNT..., nhưng trở ngại lớn nhất vẫn là tình trạng BV quá tải, điều này đã làm phá vỡ quy hoạch của BV, chèn ép các công trình phụ trợ, trong đó có cả hệ thống xử lý nước thải y tế. Đối với việc tạo nguồn kinh phí phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường, vận hành HTXLNT có tính thường xuyên, chuyên sâu, nhiều ý kiến cho rằng, đối với BV công lập nên cho phép đưa chi phí bảo vệ môi trường nói trên vào chi phí khám, chữa bệnh.

Thời gian qua, nhiều BV đã chọn cách ký hợp đồng thực hiện công tác xử lý môi trường, bao gồm cả vận hành hệ thống xử lý nước thải y tế.Nhưng không phải lúc nào cũng tìm được đối tác tin cậy, nắm bắt vững chuyên môn. Giám đốc Công ty CP thương mại, dịch vụ BV Cao Thắng Nguyễn Bảo Hiên cho biết, khi xây mới BV, công ty đã ký hợp đồng xây lắp, vận hành hệ thống xử lý nước thải y tế với một đơn vị trung gian. Nhưng khi để xảy ra tình trạng nguồn nước thải vượt tiêu chuẩn, công ty đã phải ngừng hợp đồng và tìm đối tác khác. Đành rằng, công tác xử lý khắc phục nước thải y tế gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nguy hại của nguồn nước thải gây ô nhiễm đến môi trường sống thì các BV cần phải nỗ lực, quyết liệt hơn trong việc đề xuất, thực hiện các biện pháp giải quyết triệt để.

Đồng Nai: nước ngầm nhiễm nặng amoni, coliform



Từ đầu năm 2013 đến nay, Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Đồng Nai, đã tiến hành quan trắc nước dưới đất tại 16 công trình thuộc hai huyện Định Quán, Nhơn Trạch và thị xã Long Khánh. Kết quả cho biết, tại nhiều nơi nước có hàm lượng amoni, coliform vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể, nguồn nước ngầm tại xã Đại Phước (huyện Nhơn Trạch) có hàm lượng amoni giá trị 2,8 mg, vượt 28 lần so với quy chuẩn. Ở các xã Phú Thạnh, Hiệp Phước, Vĩnh Thanh (Nhơn Trạch) hàm lượng coliform có giá trị 9 MPN/100ml đến 23 MPN/100ml, vượt từ 3 đến 7,7 lần quy chuẩn cho phép.



Ảnh minh họa

Ở huyện Định Quán, thị xã Long Khánh, đa số nguồn nước ngầm ở những vị trí quan trắc đều có chất lượng tốt. Tuy nhiên, những xã như La Ngà, Phú Lợi, Phú Ngọc, Phú Túc (Định Quán) và Bảo Vinh (Long Khánh) hàm lượng amoni, coliform, Fe vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn Việt Nam.

Những vùng nước có hàm lượng chất độc hại nêu trên, đa số người dân vẫn dùng nước giếng đào để sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Từ thực tế này, Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Đồng Nai khuyến cáo người dân các địa phương nên có các biện pháp xử lý nước trước khi đưa vào sử dụng.

Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cho biết, lượng amoni trong nước ngầm tại các địa điểm vượt quy chuẩn là do người dân sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu, hóa chất thực vật. Amoni thực ra không quá độc đối với cơ thể người (tiêu chuẩn là 3 mg/l). Nhưng trong quá trình khai thác và lưu trữ nước, chất này chuyển hóa thành nitrit và nitrat.

Nitrit là chất độc rất có hại cho cơ thể, khi người uống phải, nó sẽ chuyển hóa thành một chất có tiềm năng gây ung thư.

Riêng coliform, đây là một loại vi khuẩn, người dân khi sử dụng nước có chứa vi khuẩn này có thể bị chứng mệt mỏi, đau khớp xương, bắp thịt nhức nhối, lên cơn sốt, đau đầu. Hiện tiêu chuẩn nước uống và nước sạch ở Việt Nam đều quy định hàm lượng coliform bằng 0.

Cũng theo Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường Đồng Nai, mực nước ngầm tại 10 vị trí quan trắc ở huyện Định Quán và thị xã Long Khánh đều thấp hơn so với cùng kỳ năm 2012. Nguyên nhân của tình trạng trên là do mùa khô năm 2013 kéo dài, lượng mưa ít.



Mỏ sắt lớn nhất Đông Nam Á vấp phải sai phạm hàng loạt

Theo kết luận thanh tra đã liệt kê các sai phạm cụ thể tại mỏ sắt Thạch Khê về vấn đề chấp hành pháp luật về khoảng sản trong các hoạt động khai thác tại mỏ sắt huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Theo đó, mỏ sắt Thạch Khê bắt đầu thực hiện công tác thử nghiệm công nghệ thi công trên nền cát và sét giai đoạn I là 1,5 triệu m3 từ tháng 12/2007 đến ngày 23/2/2009 khi chưa được các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền cho phép. Theo Kết luận Thanh tra, điều này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật về khoáng sản.

Ngoài ra, dự án mỏ sắt Thach Khê vẫn chưa hoàn thành việc lập, phê duyệt và nộp thiết kế mỏ cũng như chưa bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ, gửi hồ sơ và quyết định bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ về Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản.

 

Tính đến năm 2013, số tiền hơn 8 tỉ đồng kí quỹ cải tạo phục hồi môi trường cũng chưa được Công ty CP Sắt Thạch Khê nộp. Nhà đầu tư cũng chưa có dự án cải tạo phục hồi môi trường được phê duyệt; chưa hoàn thành việc xin cấp Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; chưa có văn bản xác nhận về việc thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án.

Năm 2009 và 2011 Công ty CP Sắt Thạch Khê quan trắc không đúng tần suất theo cam kết trong bản báo cáo ĐTM (Báo cáo đánh giá tác động môi trường). Một số chỉ tiêu quan trắc nước thải tại khu vực mỏ vượt quá giới hạn theo Tiêu chuẩn Việt Nam về nước thải công nghiệp. Năm 2012, Công ty không thực hiện việc quan trắc môi trường.

Bên cạnh đó, hiện tại mỏ sắt Thạch Khê đang tạm dừng khai thác, khai trường bị ngập nước khoảng 20m, đất đá bờ moong không ổn định, dễ gây tai nạn nhưng chưa có đầy đủ các biển cảnh báo nguy hiểm.

Trong kết luận Thanh tra, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản yêu cầu Công ty CP Sắt Thạch Khê phải hoàn thành đầy đủ việc khắc phục các vi phạm, tồn tại nêu trên và báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện về Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, UBND tỉnh Hà Tĩnh. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản sẽ xem xét, xử lí theo quy định của pháp luật.