Cà Mau chủ động đối phó với xâm nhập mặn



Tỉnh Cà Mau đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp xâm mặn, nhiễm mặn, nhất là thời điểm từ đầu tháng 12 đến cuối tháng 5 năm sau tỉnh Cà mau đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Các giải pháp trên bao gồm: ở  những đoạn đang bị sạt lở nghiêm trọng ,tiến hành bồi trúc, gia cố trên 10 đoạn đê biển đông và đê biển tây với chiều dài trên 3 km. Chính quyền cơ sở đã huy động hàng trăm người tham gia chống sạt lở, hạn chế xâm mặn trên toàn tuyến đê biển.



Trong chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng giai đoạn 2015 - 2020 Cà Mau đã triển khai nâng cấp đê biển.

Chính quyền địa phương huy động hàng trăm lượt người tham gia đắp trên 700 con đập, bồi trúc trên 20.000 km đê sông nhằm ngăn chặn nhiễm mặn ven sông nội địa. Cách làm này đã mang lại hiệu quả là bảo vệ an toàn trên 50.000 ha đất nông nghiệp không bị nhiễm mặn.

Là tỉnh ven biển với bờ biển đông và đê biển tây tổng chiều dài trên 250 km; trong nội địa có trên 10.000 con sông; trong đó có trên 5.000 con sông là nước mặn. Vì vậy tình trạng xâm mặn, nhiễm mặn ở Cà Mau luôn diễn biến phức tạp, năm sau nghiêm trọng hơn năm trước. Ước tính hiện nay tỉnh Cà Mau có trên 5.000 ha đất nông nghiệp bị xâm mặn, nhiễm mặn.

Xâm mặn hay nhiễm mặn đều ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vùng sản xuất lúa, cây ăn trái nếu bị nhiễm mặn thì sẽ bị mất trắng. Đối với xâm mặn thì tình hình còn phức tạp hơn, vì xâm mặn vùng ven biển nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ có nguy cơ phá vỡ quy hoạch vùng ngọt hóa, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề.

Là nông dân xã Khánh An, huyện U Minh , ông Nguyễn Thanh Bền chia sẻ, từ trước đến nay bà con trong vùng sản xuất lúa kết hợp với chăn nuôi, nhưng gần đây do đất đai bị nhiễm mặn nên mùa màng luôn bị thất bát.

Xâm mặn, nhiễm mặn là chuyện thường xảy ra đối với địa phương ven biển, là quy luật của tự nhiên. Nếu chủ động đối phó sẽ hạn chế thiệt hại. Với những giải pháp chủ động, kịp thời, Cà Mau sẽ hạn chế được thiệt hại do xâm mặn, nhiễm mặn gây ra.

Đê biển Gò Công ở Tiền Giang sạt lở mạnh

Mới vào đầu mùa gió chướng nhưng đê biển Gò Công ở Tiền Giang đang bị sạt lở mạnh. Những cơn sóng to  từ ngoài khơi xa theo gió chướng thổi mạnh đánh từng hồi vào bờ gây sạt lở đất đai, rừng phòng hộ kể cả nhà cửa nhân dân cũng bị nhiều thiệt hại.


Dài trên 21.000 m  tuyến đê biển Gò Công có nhiệm vụ hết sức quan trọng là ngăn mặn, giữ ngọt, bảo vệ sản xuất trên 40.000 ha đất và khoảng 500.000 dân các huyện vùng ven biển tỉnh Tiền Giang. Để tăng khả năng chống chịu của đê biển trước bão tố và triều cường, bên ngoài đê còn có đai rừng phòng hộ với chiều sâu từ 300 m đến ngoài 1.000 m tùy theo từng đoạn. Là tỉnh hạ lưu sông Tiền, tiếp giáp với biển Đông nên Tiền Giang chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, triều cường phía đông và ngập lũ phía tây làm sạt lở, ngập úng, hạn mặn…Trong đó, đê biển Gò Công là một trong những tuyến đê giữ vai trò tiền tiêu chống chịu bão tố, triều cường hàng năm.



Chi cục Trưởng Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tỉnh Tiền Giang - ông Nguyễn Thiện Pháp chia sẻ: được xây dựng từ trước năm 1975 đê biển Gò Công qua nhiều năm bị sóng gió, đặc biệt mùa gió chướng thổi mạnh kèm theo sóng to đã xâm thực khủng khiếp khiến toàn bộ tuyến đê hư hỏng, không còn phát huy tác dụng phòng chống thiên tai. Do vậy, đã hai lần phải di dời đê và tuyến đê mới hiện hữu, cách đê cũ khoảng 400 m sâu vào đất liền.



Mặc dù tỉnh đã nhanh chóng triển khai các giải pháp tích cực để bảo vệ đê và rừng phòng hộ nhưng biến đổi khí hậu gây sạt lở nặng, làm mất dần đai rừng phòng hộ, đe dọa an toàn đê, đe dọa an toàn cho những khu dân cư ven biển Gò Công. Các ngành chức năng đã khảo sát, trung bình mỗi năm biển lấn sâu vào đất liền từ 8 m đến 10 m. Rừng phòng hộ ngoài đê mất từng mảng lớn, có đoạn xung yếu khu vực xã Tân Điền, Tân Thành (huyện Gò Công Đông) sóng đánh trôi hết toàn bộ mảng rừng phòng hộ ngoài đê. Có đoạn, đai rừng còn vỏn vẹn từ 4 đến 20 m tính từ chân đê ra biển là thông tin được ông Pháp cung cấp.




Hiện tại có khoảng 5 km đê xung yếu thuộc xã Tân Điền coi như mất hoàn toàn đai rừng phòng hộ, phải trực tiếp đối mặt với sóng gió dữ dội. Đoạn xung yếu trên đang được Tiền Giang kiên cố hóa bằng nguồn vốn nâng cấp đê biển do Trung ương hỗ trợ. Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão tỉnh Tiền Giang cho biết: trước tình hình hiện nay, nếu không có biện pháp hữu hiệu bảo vệ diện tích rừng phòng hộ còn lại và khôi phục rừng đã mất phía ngoài đê thì đến năm 2020 toàn bộ rừng phòng hộ bảo vệ đê biển Gò Công không còn. Tuyến đê biển Gò Công khi ấy khó tồn tại trước thiên tai.




Thông thường, sạt lở xảy ra vào mùa gió chướng thổi mạnh hàng năm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Thiện Pháp, chưa năm nào như năm nay, mới đầu mùa gió chướng nhưng sóng gió làm sạt lở mất hàng chục ngàn m2 đất ao mương nuôi thủy sản ven đê, làm sập thêm 3 căn nhà dân tại ấp Cầu Muống, xã Tân Thành. Trước đó, cũng tại khu dân cư ven đê ấp Cầu Muống đã có 3 nhà dân bị sóng biển đánh sập phải di dời khẩn cấp bảo toàn tính mạng.




Đầu tháng 12/2015, xã Tân Thành, một xã ven biển của huyện Gò Công Đông, là nơi nuôi nghêu ven biển rộng trên 2.000 ha vốn mang lại cho bà con sở tại nguồn nguồn lợi kinh tế hết sức quan trọng. Tại ấp Cầu Muống, chúng tôi gặp chị Đinh Thị Mai đang gom từng miếng gạch vỡ của nhà hộ dân phía ngoài bị sập, phải di dời để gia cố chân tường nhà mình. Hộ bên ngoài liền kề nhà bị sóng đánh sập nên bây giờ, nhà chị thành ra là điểm trực tiếp chống chịu sóng biển và gió chướng. Chị Mai cho biết, mấy hộ ở đây vừa phải di dời do không thể cầm cự trước mùa gió chướng năm nay.




Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Thành -  ông Đoàn Thanh Hưng, có hai khu dân cư sống ngoài đê biển Gò Công gồm: Một điểm tại ấp Cầu Muống và một điểm tại ấp Tân Phú với khoảng 47 hộ dân. Đây cũng là hai điểm dân cư cần phải di dời khẩn cấp bởi tình hình sạt lở do biến đổi khí hậu ngày một gay gắt, phức tạp. Hiện nay, tỉnh đang lập dự án di dời các hộ dân trên vào khu tái định cư để bảo đảm an toàn. Trong thời gian chờ dự án thì năm ngoái đã có 3 hộ và đầu mùa gió chướng năm nay có thêm 3 hộ dân phải di dời khẩn cấp bởi nhà cửa bị sập.




Từ năm 2011, nhằm bảo vệ đê và rừng phòng hộ, trong khuôn khổ Chương trình củng cố nâng cấp đê biển được Chính phủ phê duyệt, Tiền Giang triển khai dự án nâng cấp đê biển Gò Công, tổng vốn đầu tư 877 tỉ đồng. Tuy nhiên, đến cuối năm 2015, mới chỉ thực hiện được một số hạng mục bức thiết trước mắt với kinh phí đầu tư khoảng 170 tỉ đồng, chiếm 19% tổng kinh phí toàn dự án.




Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị xem xét hỗ trợ khẩn cấp 405 tỉ đồng đầu tư kè mái đê biển ở những đoạn xung yếu, cứng hóa mặt đê biển, thực hiện chống xói lở, gây bồi và trồng lại rừng phòng hộ tại những nơi bị mất để bảo vệ an toàn tuyến đê. Song song đó, tỉnh cũng xúc tiến lập dự án hỗ trợ di dời trên 40 hộ dân sống ven đê biển đang đối mặt nguy cơ sạt lở cao mà đa phần đều là hộ dân ven biển nghèo khó. Trong số đó trên 50% số hộ không có đất để di dời. Rõ ràng, đây là những vấn đề bức thiết cần thực hiện nhằm đảm bảo an toàn cho đê biển Gò Công, phát huy được vai trò tuyến đê trong việc thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ sản xuất và đời sống trên nửa triệu dân vùng ven biển tỉnh Tiền Giang.

Hàng trăm hecta đất nông nghiệp thành kho, xưởng




Nhiều người dân xã Yên Viên mới đây phản ánh  "Ở khu vực bãi bồi ven Sông Đuống, đoạn qua địa bàn xã Yên Viên, huyện Gia Lâm hàng trăm hecta đất nông nghiệp đang bị xẻ thịt, biến thành nhà xưởng, trạm sản xuất bê tông, ván ép và điểm tập kết, trung chuyển than cùng VLXD. Tình trạng này, không chỉ khiến cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp lâu dài, ổn định của người dân ngày càng bị thu hẹp, nguy cơ ô nhiễm, sụt lún tăng cao trong mùa mưa bão…!".




Khi đến thực tế tại khu vực thôn Cống Thôn, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, người dân địa phương cho biết, tại khu bãi bồi ven Sông Đuống hiện có gần 20 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động.Theo Nghị định 64/CP những doanh nghiệp này về xây dựng nhà xưởng và lắp đặt máy móc để sản xuất bê tông… trên đất nông nghiệp mà trước đây chính quyền đã giao cho cách đây khoảng 10 năm}. Điều đáng nói, bên cạnh những đơn vị sản xuất cũ thì gần đây tại khu vực liên tục xuất hiện các nhà xưởng, điểm tập kết vật liệu xây dựng  mới. Cụ thể, là bãi cát của HTX Cầu Đuống, HTX Thành Đoàn, Công ty TNHH Minh Hạnh, Công ty cổ phần Xây dựng thương mại Đức Mạnh và doanh nghiệp tư nhân Minh Đức…


Hằng ngày, tại các bãi vật liệu xây dựng tàu thuyền, máy xúc, ô tô ra vào, hoạt động kinh doanh tấp nập, khiến cho môi trường quanh khu vực chỗ nào cũng mù mịt đất cát, khói bụi.

Do phải "oằn mình" chống đỡ các phương tiện cơ giới trọng tải lớn ra vào nên hệ thống đường giao thông dưới chân Đê Đuống chỗ nào cũng mấp mô, lồi lõm, xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống đường giao thông dưới chân Đê Đuống chỗ nào cũng mấp mô, lồi lõm, xuống cấp nghiêm trọng vì Do phải "oằn mình" chống đỡ các phương tiện cơ giới trọng tải lớn ra vào.  Hiện tại
các đơn vị trên vẫn chưa đủ các thủ tục về pháp lý trong việc kinh doanh và sử dụng đất. Trong đó, một số đơn vị hoạt động không có giấy phép từ nhiều năm nay như hợp tác xã Thành Đoàn, hợp tác xã Cầu Đuống, Công ty Bê tông Vinh Huy...

Theo anh Trần Văn Mạnh, một người dân xã Yên Viên thì toàn bộ diện tích đất bãi bồi nói trên cách đây 10 năm người dân địa phương vẫn canh tác, sản xuất hiệu quả. Chỉ đến khi các doanh nghiệp ồ ạt kéo về xây dựng nhà xưởng, sản xuất, buôn bán VLXD  thì hoạt động sản xuất có phần kém đi. Gần đây, do nước sông cạn, không bồi đắp đủ lượng phù sa nên việc sản xuất nông nghiệp lại càng gặp nhiều khó khăn. Vì việc canh tác không hiệu quả, dần dần một số hộ đã bán hoặc cho các doanh nghiệp thuê lại sử dụng vào mục đích khác. Ngoài ra, một số diện tích đất công, thùng đào, hố đấu để hoang hóa từ nhiều năm nay cũng được Ủy ban nhân dân  xã Yên Viên đứng ra ký hợp đồng cho các hộ kinh doanh thuê với giá từ 10 đến 15 nghìn đồng/m2/năm. Các doanh nghiệp tập trung kinh doanh, sản xuất tại đây đa số là của người dân địa phương, chỉ có một số ít là của người từ nơi khác đến.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân  xã Yên Viên - ông Nguyễn Văn Kỷ cho biết, địa phương đã kiểm tra và đình chỉ việc mở rộng, xây dựng nhà xưởng trái phép của các doanh nghiệp. Những doanh nghiệp chưa có giấy phép kinh doanh, chính quyền cũng đã rà soát và yêu cầu hoàn thiện các thủ tục pháp lý theo quy định. Nếu sang năm 2016, các đơn vị này không xuất trình được các văn bản liên quan đến việc sử dụng đất và giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp, Ủy ban nhân dân  xã sẽ xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.

Như thế, có thể nhận thấy thời gian qua công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã Yên Viên đã bị buông lỏng. Tại sao hàng trăm héc ta đất nông nghiệp lại có thể được mua bán, chuyển đổi thành nhà xưởng, kho bãi một cách dễ dàng?

Xấp xỉ mức báo động II triều cường đang lên cao ở Đồng Nai

Khu vực Nam bộ theo dự báo của Đài Khí tượng Thủy văn thì triều cường vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn đang ở dâng cao và có khả năng có thể lên cao trong một ngày tới. Mực nước trên sông Đồng Nai tại trạm Biên Hòa đang ở mức 1,75 mét, xấp xỉ mức báo động II.





Mực nước trên sông Đồng Nai đang lên cao, xấp xỉ mức báo động II -Ảnh: TL



Dự báo trong một ngày tới, mực nước trên sông Đồng Nai tại trạm Biên Hòa tiếp tục lên và có khả năng sẽ chạm mức báo động II. Đỉnh triều xuất hiện vào khoảng thời gian 6 – 7 giờ sáng và 19 - 20 giờ tối.



Trong khi đó, kết quả đo mực nước tại trạm Tà Lài, huyện Tân Phú (Đồng Nai) phía thượng nguồn sông Đồng Nai cho thấy mực nước vẫn dưới mức báo động I và không cao lên trong những ngày tới. Hiện nay, mực nước thực tế đo được tại hồ Trị An là 59,62 mét, vẫn chưa đạt cao trình thiết kế của đập thủy điện Trị An là 62 mét.



Do khu vực phía Nam đang bước vào mùa khô, thời điểm hiện nay mưa ít hơn, do đó, lượng nước về hồ Trị An cũng chỉ đạt 340 mét khối/giây và lưu lượng nước qua tua bin nhà máy điện là 417 mét khối/giây.



Với lượng xả như hiện nay, hầu như không ảnh hưởng đến khả năng ngập lụt ở khu vực phía hạ lưu đập thủy điện. Tuy nhiên, do thủy triều đang dâng cao ở phía hạ lưu sông Đồng Nai, nếu mực nước vượt mức báo động II thì nhiều vùng hạ du như một số nơi thuộc huyện Long Thành, Nhơn Trạch cần đề phòng ngập lụt.

Suối Gia Ôi bị "bức tử"



Ôm trọn thị trấn Tô Hạp từ lâu, suối Gia Ôi là nguồn cung cấp nước sinh hoạt gần 1000 hộ dân ở thị trấn Tô Hạp, xã Sơn Trung và xã Ba Cụm Bắc huyện Khánh Sơn.Nhưng hiện tại, suối Gia Ôi đang bị “bức tử” vì một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật từ việc canh tác nông nghiệp của người dân ở khu vực thượng nguồn. Tình trạng trên đe dọa đến sự sống còn của nhà máy nước Tô Hạp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân.


Ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước

Đi bộ chừng hơn 1 giờ đồng hồ từ thị trấn Tô Hạp trên con đường lổn nhổn đất đá, là đến thượng nguồn con suối Gia Ôi. Trời bắt đầu mưa lấp phất, thỉnh thoảng những cơn gió lùa tới, mang theo mùi hôi nồng của thuốc trừ sâu bốc lên rất khó chịu.

Cán bộ kỹ thuật Ban quản lý Các công trình Công cộng và Môi trường huyện Khánh Sơn anh Mai Văn Đạt chia sẻ: “ Suối Gia Ôi trước đây là con suối nước trong xanh, sinh vật như cá tôm, cua ốc khá đa dạng, 5 năm trở lại đây, người dân địa phương tìm đến vùng thượng nguồn suối Gia Ôi sản xuất nông nghiệp ngày càng đông. Do vùng đất này khá màu mỡ lại thuận lợi nguồn nước tưới nên hàng trăm héc- ta(ha) đất ở khu vực này đã hình thành những rẫy cà phê, những nương lúa xanh mướt. Người dân sinh sống ở đây chủ yếu là người Jagrai, họ làm nhà, dựng lều bên cạnh suối Gia Ôi để sản xuất nông nghiệp”.




Có hơn 38 hộ dân làng Tà Lương sinh sống ở thượng nguồn suối Gia Ôi, họ sống tập trung thành làng, hộ ít thì sản xuất khoản 4-5 ha cà phê, chuối, lúa, râu màu, hộ nhiều thì sản xuất 20-30 ha. Ông Ma- Heng, đang phun thuốc cỏ bên bờ suối, gặp tôi ông cứ tưởng là thương lái, nên phân giải thích: “Giá nông sản năm nay thấp quá, chi phí lại nhiều,15 ha cà phê, lúa nước, chuối của nhà tôi trừ đi chi phí chỉ còn lời rất ít. Năm nay mưa nhiều nên cỏ lên nhanh, sâu bệnh nhiều, nương rẫy nhà tôi phải phun thuốc trừ cỏ, trừ sâu liên tục. Mặc dù vẫn biết phun thuốc cỏ, thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến nguồn nước nhưng vẫn phải làm thôi! ”.




Bà Gia-hiên đang tỉa cành cà phê cũng chia sẻ: “Mặc dù cán bộ thi trấn thường xuyên vào làng khuyên bà con hạn chế dùng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ ở đầu nguồn nước, nhưng nếu không dùng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu thì ruộng vườn không xanh tốt được. Hàng ngày chai lọ thuốc trừ sâu cứ vứt bừa ra hai bên bờ suối, có người còn đem cả máy bơm thuốc sâu xuống suối chùi rửa”.




Được biết loại thuốc diệt cỏ Rapid và Grassad, có hàm lượng độc tố rất cao, nhưng, nhiều người dân không chỉ pha đậm đặc hơn thông thường phun liên tục ở hai bên bờ suối. Điều này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm đất ngay tại nương rẫy, mà suối Gia Ôi trong lành hàng ngày đang bị đe dọa, bị “bức tử” bởi thuốc trừ sâu và hóa chất độc hại. Điều đáng nói Gia Ôi là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, ăn uống hàng ngày duy nhất cho hàng ngàn người dân Khánh Sơn thông qua công trình nước sạch của thị trấn Tô Hạp, tình trạng ô nhiễm hóa chất ở đầu nguồn suối Gia Ôi đang là tình trạng vô cùng nguy hiểm, đe dọa đến sức khỏe người dân.

Anh Mai Văn Đạt vừa đưa tay mở ngăn chứa nước ở Bể Dâng bến suối vừa bộc bạch nỗi lòng: “Trước đây cá dưới suối Gia Ôi rất nhiều, chỉ cần ra suối chừng nữa tiếng đồng hồ có thể bắt được vài kg cá suối cải thiện thêm các bữa ăn cho anh em. Mấy năm nay do ô nhiễm nguồn nước, cá tôm chết hết rồi, chai lọ thuốc trừ sâu cứ trôi nỗi trên suối thì sinh vật nào mà sống sót được. Cứ vài ngày công nhân nhà máy mà không đi vớt vỏ chai, thì các loại chai lọ này sẻ làm tắc bể dâng nhà máy”.


Hệ lụy khó lường

Rời con suối đầu nguồn, chúng tôi đến nhà máy nước Tô Hạp, công trình nhà máy nước Tô Hạp Xây dựng năm 2001, công suất 1100m3/giờ và đi vào hoạt động chính thức năm 2002. Nguồn nước nhà máy nươc Tô Hạp bắt về từ con suối Gia Ôi. Theo quan sát của chúng tôi thì các hạng mục của nhà máy như bể lọc, bể chứa đã khá cũ, rong rêu bám dày đặc, bể lọc rêu và chất cặn sủi lên đặc quánh.

Anh Nguyễn Khoa Trưởng, Trưởng Ban quản lý Các công trình Công cộng và Môi trường Khánh Sơn phàn nàn: “Tôi mới về nhận công tác ở đây được hơn một năm, nhà máy nước Tô Hạp công nghệ đã quá cũ, đường ống nước tự chảy làm bằng sắt đã hoen rỉ, nhiều đoạn bị móp nặng, thỉnh thoảng có đoạn bị thủng và xì nước ra ngoài. Nhà máy chỉ có duy nhất một bể lọc, một bể chứa nên không thể đáp ứng lượng nước cho gần 1000 hộ dân sử dụng như hiện nay. Chúng tôi đã khảo sát và đề nghị có phương án xây thêm bể lắng, nhưng hiện tại kinh phí chưa có nên chỉ biết chờ phê duyệt từ Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa”.

Điều hiểm họa cho nhà máy nước Tô Hạp, nguồn nước cung cấp cho Nhà máy đang bị nhiễm độc do người dân thường xuyên sử dụng phân bón hóa học, thuốc diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật. Nhân viên Nguyễn Văn Mạnh, người thường xuyên phải trực tại nhà máy nước Tô Hạp cho biết: “ Mùa mưa đã đến, trực ở nhà máy vất vả lắm, chỉ cần một trận mưa là nước từ thượng nguồn đổ về đục ngầu, nhiều khi có cả mùi của thuốc bảo vệ thực vật. Nếu xả bể thì không có nước cung cấp cho các hộ dân, nhưng nếu không xả bể để nước như vậy sử dụng sẻ không đảm bảo được sức khỏe”.

Nói về các giải pháp khắc phục ô nhiễm nguồn nước, ông Nguyễn Quốc Thái, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Tô Hạp cho biết: “Ủy ban nhân dân thị trấn đã nhiều lần chỉ đạo đoàn thanh niên, phối hợp với hội phụ nữ vào tận thượng nguồn, đến tận nhà vận động, hướng dẫn bà con sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ phù hợp, hợp vệ sinh tránh ô nhiễm nguồn nước, thế nhưng các hộ dân ở đây dương như không nghe, không thấy, không làm”.

Người dân ở thị trấn Tô Hạp mặc dù biết nước sinh hoạt ở nhà Máy Tô Hạp không đảm bảo vệ sinh nhưng vẩn phải chấp nhận sử dụng, bởi không có nguồn nước khác. Nhiều hộ gia đình điều kiện kinh tế khá giả, ý thức được nước đối với sức khỏe, họ tự mua hệ thống lọc nước về lắp tại gia đình. Đa phần người dân lao động lại phó mặc số phận cho sự may rủi.

Để có biện pháp khắc phục tình trạng trên chúng tôi có cuộc trao đổi nhanh với ông Đinh Ngọc Bình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Khánh Sơn trần tình: “Ban đầu Ủy ban nhân dân huyện tính phương án di rời 38 hộ dân ở thượng nguồn suối Gia Ôi đến nơi ở mới nhưng số hộ dân quá lớn, họ đã canh tác ôn định nên phương án nay không khả thi. Hiện nay, dự án hồ chứa nước Sơn Trung đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất chủ trương đầu tư, được bổ sung vào danh mục các dự án Sơn Trung giai đoạn 2016 - 2020. Hồ chứa nước Sơn Trung sẽ được đầu tư để tích trữ nước cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho khu vực xã Sơn Trung, thị trấn Tô Hạp và một số khu vực lân cận. Vì vậy, huyện sẽ di dời Nhà máy nước Tô Hạp sang Sơn Trung”.

Không biết chủ trương di rời nhà máy nước đến bao giờ mới thực hiện được, thế nhưng hàng nghìn người dân vẫn đang phải sử dụng nguồn nước bị nhiễm độc, tương lai và sức khỏe của họ đang là câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà chức năng?

Ô nhiễm trầm trọng ở các làng nghề Bắc Ninh


Tỉnh Bắc Ninh ngày càng phát triển về kinh tế- xã hội Với hơn 62 làng nghề đang phát triển mạnh mẽ, trong đó có 31 làng nghề truyền thống thu hút hơn 76 nghìn lao động và đóng góp gần 8% GDP của tỉnh, song cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm làng nghề đang ngày càng diễn biến trầm trọng.



Là tỉnh phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ trong những năm gần đây và nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Tỉnh Bắc Ninh ngoài là địa phương tập trung các khu công nghiệp lớn, các công ty, xưởng chế xuất vừa và nhỏ trên địa bàn toàn tỉnh, Bắc Ninh còn nổi tiếng với sự phát triển mạnh mẽ các làng nghề như: Đồ gỗ Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái, giấy Yên Phong, thép Đa Hội, tranh dân gian Đông Hồ, bún bánh Khắc Niệm, tái chế Nhôm Văn Môn, gốm Phù Lãng….

Có diện tích nhỏ nhất Việt Nam nhưng lại là tỉnh có nhiều làng nghề nhất cả nước, Bắc Ninh hiện có tổng cộng 62 làng nghề phân bố đồng đều trên địa bàn toàn tỉnh (1 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 6 huyện), trong đó có 31 làng nghề truyền thống có hơn 76 nghìn lao động và đóng góp gần 8% GDP của tỉnh. Bắc Ninh đang từng ngày phát triển hơn về kinh tế- xã hội song cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm trầm trọng ở các làng nghề .

Có 6 tụ điểm đã được nhắc đến trong danh sách ô nhiễm “có tiếng” hiện nay bao gồm: Làng nghề tái sản xuất giấy Phong Khê (tp. Bắc Ninh), làng bún Khắc Niệm(xã Khắc Niệm, TP Bắc Ninh); Làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá (Yên Phong); Làng nghề đúc đồng Đại Bái (Gia Bình); Làng nghề tái chế thép Đa Hội (thị xã Từ Sơn); Làng đúc đồng Quảng Bố (Lương Tài), nếu không quản lý tốt, tình trạng ô nhiễm có thể sẽ lan rộng trên địa bàn toàn tỉnh. Bởi một quy luật ở đâu có làng nghề ở đó sẽ ô nhiễm.




Phần lớn các cơ sở làng nghề ở Bắc Ninh chủ yếu sản xuất với quy mô nhỏ, không đủ điều kiện để xử lý triệt để nước thải, chất thải, khí thải… tại chỗ nên đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe người dân.

Theo báo cáo của Trạm Y tế xã Đại Bái (Gia Bình), trong vòng 3 năm từ 2001 - 2014, chỉ tính riêng xóm Trại, thôn Đại Bái đã có 23 người chết do các bệnh ung thư. Người chết có xu hướng trẻ hóa, chủ yếu ở độ tuổi từ 45 đến 50.Tại hai làng bún bánh Khắc Niệm và rượu cồn Đại Lâm là những làng nghề có mức độ ô nhiễm cao nhất với 48/450 chỉ tiêu ô nhiễm vượt giới hạn cho phép. Số lượng người mắc bệnh ngày càng tăng trong đó căn bệnh thường gặp là viêm đường hô hấp cấp, đường tiêu hóa, bệnh phổi.Tỷ lệ chết do ung thưđứng đầu cả nước suốt hai năm gần đây ở làng tái chế nhôm Văn Môn, nặng nề nhất là thôn Mẫn Xá, những cái chết thương tâm, như một lời cảnh tỉnh về mức độ ô nhiễm đáng báo động. Việc hiện trạng ô nhiễm tại các càng làng nghề này như thế nào, hậu quả mà con người đã phải hứng chịu ra sao thì có lẽ trong bài viết này không cần phải nhắc lại quá nhiều tất cả đều có mẫu số chungcho ta thấy sự kinh khủng của ô nhiễm làng nghề.




Việc phát triển làng nghề là điều cần thiết. Tuy nhiên, nếu không quản lý cho tốt rất có thể chỉ trong một vài năm nữa Bắc Ninh sẽ vươn lên dẫn đầu về tình trạng ô nhiễm làng nghề. Đây thực sự là bài toán khó khiến các nhà quản lý lo “ngay ngáy”.

Theo đó, tỉnh Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ công khai và cập nhật thường xuyên danh sách, thông tin về thực trạng các làng nghề được công nhận, làng nghề chưa được công nhận và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, quản lý chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề, cơ bản kiểm soát được tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề; không phát sinh làng nghề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mới. Tất cả các cơ sở sản xuất còn tồn tại trong các làng nghề chưa được công nhận có biện pháp xử lý chất thải theo quy định hoặc di dời vào Cụm công nghiệp làng nghề hoặc chấm dứt hoạt động. Phấn đấu đến năm 2030, các làng nghề trên địa bàn tỉnh được công nhận, thống nhất quản lý và tuân thủ đầy đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường nhằm triền khai theo Đề án tổng thể Bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, cần có kế hoạch bảo tồn, phát triển làng nghề trở lại giá trị truyền thống, phát huy vai trò cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn, không để lại hậu quả khôn lường cho môi trường và sức khỏe con người.

Tuy nhiên, đó chỉ là kế hoạch được vạch ra còn thực hiện được bao nhiêu, đến đâu còn phụ thuộc vào sự nỗ lực của toàn tỉnh trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo và thực thi… nếu không muốn trong 1 vài năm nữa Bắc Ninh sẽ “dẫn đầu về tình trạng ô nhiễm làng nghề”.

"Tối hậu thư" cho dự án chậm tiến độ


Công ty CP Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn bắt buộc phải hoàn thành Dự án Khu dân cư phát triển đô thị khu vực 2 và 3, phường 5, TP.Vị Thanh (Hậu Giang) vào ngày 30/03/2015.

Công ty CP Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn về tiến độ Dự án Khu dân cư phát triển đô thị khu vực 2 và 3 phường 5, TP. Vị Thanh đã có buổi làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang cùng các Sở, ngành chức năng.



Sau khi nghe đại diện Công ty CP Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn nêu lên những khó khăn dẫn đến việc thực hiện dự án chậm so với tiến độ đã đề ra ở buổi làm việc, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã chấp thuận gia hạn hoàn thành dự án Khu dân cư phát triển đô thị khu vực 2 và 3 đến ngày 30/3/2016. Nếu quá thời hạn nêu trên, nếu doanh nghiệp này vẫn chưa hoàn thành thì Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi dự án này.

Ngoài ra, Công ty CP Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn thống nhất Ủy ban nhân dân thành phố Vị Thanh về việc mua lại một số nền đất trong khu dân cư này để phục vụ việc bố trí tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng một số dự án khác trên địa bàn thành phố trong quý I/2016.

Vào năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã chấp thuận chủ trương cho Công ty CP Đầu tư và Xây lắp Dầu khí Sài Gòn đầu tư xây dựng Khu dân cư phát triển đôi thị 2 và 3 thuộc phường 5, TP. Vị Thanh với tổng diện tích trên 60ha. Dự án này được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng làm đổi thay bộ mặt trung tâm tỉnh lỵ Hậu Giang, giải quyết nhu cầu nhà ở chất lượng cao cho người dân…Thế nhưng, sau nhiều năm được giao đất, nhà đầu tư không triển khai thực hiện dự án theo tiến độ, khiến cho chính quyền địa phương và người dân nơi đây bức xúc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi lại dự án này…